Tổng quan về các loại hình ngân hàng trung gian

0
16

Các loại ngân hàng trung gian hiện nay gồm có: Các ngân hàng thương mại, Ngân hàng đặc biệt, ngân hàng tiết kiệm và các liên hiệp tín dụng.

Các loại ngân hàng trung gian hiện nayCác loại ngân hàng trung gian hiện nay

Ngân hàng thương mạiNgân hàng thương mại

2/ Ngân hàng đặc biệt

Ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng trung gian được thành lập để phục vụ cho những mục đích đặc biệt. Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời loại hình ngân hàng này là do sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực trong nền kinh tế thị trường.

Để khắc phục điều đó đòi hỏi chính phủ phải có những chính sách hỗ trợ ưu tiên cho những ngành sản xuất kém phát triển để thúc đẩy nó phát triển nhanh. Trong lĩnh vực ngân hàng có những ngân hàng phục vụ riêng cho một ngành , một lĩnh vực nào đó như ngân hàng phát triển ngư nghiệp ở Hàn Quốc, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam..

Mặt khác đối với những ngành kinh tế mũi nhọn cần được hỗ trợ để phát triển trước, tạo tiền đề để thúc đẩy các ngành khác phát triển cũng đòi hỏi có những quan tâm hỗ trợ về vốn như ngoại thương, đầu tư dài hạn..Điều này dẫn tới sự hình thành của các ngân hàng chuyên biệt như ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng công nghiệp Hàn quốc.

Ngoài ra để hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người nghèo, giúp nhân dân ổn định chỗ ở đã dẫn đến việc hình thành các ngân hàng chuyên biệt  phục vụ mục đích này như Ngân hàng phát triển nhà ở Hàn quốc, ở Việt Nam..

Về nguyên tắc các ngân hàng đặc biệt không khác gì các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vì chúng ra đời phục vụ những mục đích đã xác định trước theo tên gọi của chúng do vậy chúng không thể đầu tư cho thương mại hoặc sản xuất một cách tự do như ngân hàng thương mại. Sự khác nhau là ở chỗ, ngân hàng thương mại có đối tượng đầu tư khá rộng còn các ngân hàng đặc biệt có đối tượng đầu tư hạn hẹp hơn nhiều.

Riêng với ngân hàng đầu tư, nó có quá trình được tách ra từ ngân hàng thương mại.

Ngân hàng thương mại còn được gọi là ngân hàng tiền gửi là hình thức ngân hàng ra đời sớm nhất, gắn liền với sự xuất hiện của hoạt động ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng là nhận tiền gửi của công chúng và thực hiện nghiệp vụ cho vay.

Khi mới hình thành, ngân hàng tiền gửi của công chúng chưa có sự phân biệt giữa tiền gửi ngắn hạn và tiền gửi dài hạn đồng thời hoạt động cho vay cũng có sự phân biệt giữa cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn. Lúc này ngân hàng hoạt động theo mô hình “ngân hàng tổng hợp” có nghĩa là ngân hàng làm đủ mọi việc từ việc nhận tiền gửi cho vay đến đầu tư như hùn vốn thành lập công ty, mua bán chứng khoán, bảo hiểm…

Sau khủng hoảng kinh tế 29-33, việc phân chia ngân hàng tiền gửi thành ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư bắt đầu lan rộng như ở Mỹ, Canada và nhiều nước Âu, Anh, Pháp đã áp dụng từ những năm 1960. ở giai đoạn này ngân hàng hàng thương mại được hiểu là ngân hàng nhận tiền gửi của công chúng và thực hiện nghiệp vụ cho vay ngắn hạn.

Còn ngân hàng đầu tư thực hiện các nghiệp vụ trung hạn, dài hạn và không nhận tiền gửi ngắn hạn; nó cho vay bằng nguồn vốn riêng của mình là chủ yếu, nếu thiếu ngân hàng sẽ phát hành trái khoán để gọi vốn. Ngoài nghiệp vụ trung và dài hạn ngân hàng đầu tư còn tham dự tài chính vào các công ty công nghệ hay thương mại dưới hình thức hùn vốn hay mua cổ phần trong các công ty đó. Đôi lúc, ngân hàng đầu tư đứng ra thiết lập các công ty đó, sau nhượng lại một phần hay toàn bộ số vốn của công ty cho người khác.

Cũng có lúc, ngân hàng đảm nhiệm việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu cho các công ty. Ngoài ra, ngân hàng đầu tư còn cử người vào ban quản trị các xí nghiệp hay công ty mà nó tại trợ để kiểm soát hoạt động của các đơn vị này.

Ở Việt nam có nhiều ngân hàng với những tên gọi khác nhau, có thể coi là ngân hàng thương mại cũng có thể coi là ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng ngoại thương Việt nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam, Ngân hàng phát triển nhà, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam, Ngân hàng phục vụ người nghèo.

3/ Ngân hàng tiết kiệm

Ngân hàng tiết kiệm được hình thành với mục đích huy động những khoản tiền để dành của công chúng nhằm làm tăng thêm khoản sinh lời cho người lao động, mặt khác gia tăng nguồn tài chính cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất và trao đổi.

Tính chất: Ngân hàng tiết kiệm khác với các loại ngân hàng trung gian khác. Những đặc điểm đó là:

– Chủ nhân của các ngân hàng tiết kiệm là người đã gửi tiền tiết kiệm.

– Phương thức hoạt động của ngân hàng tiết kiệm mang nhiều tính tương trợ, khác với ngân hàng thương mại là nhằm mục đích kinh doanh là chính.

– Vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng tiết kiệm là tiền gửi của dân chúng hoặc là góp vốn đóng góp của các nhà hảo tâm với tính chất hỗ trợ người nghèo là chính hơn là đóng góp để kiếm lời. Loại ngân hàng này không phát hành phiếu nợ để vốn của công chúng và hầu như không vay của tổ chức nước ngoài hay ngân hàng trung ương trừ trường hợp đặc biệt thiếu tiền mặt.

– Do tính chất đặc biệt của vốn huy động, các ngân hàng cho vay rất thận trọng. Tiêu chuẩn hàng đầu trong vấn đề cho vay là an toàn. Điều này đã giúp cho các ngân hàng tiết kiệm đứng vững trong các cuộc khủng hoảng tài chính 1857, 1866, 1873 ở Anh và 1873, 1929, 1933 ở Hoa kỳ. Cho đến nay các nguồn cho vay chính của ngân hàng tiết kiệm cũng vẫn giống như thập niên trước, chủ yếu bằng việc cầm cố nhà cửa, tài sản hoặc chứng khoán.

Tiếp đó là đầu tư vào chứng khoán hoặc cho các ngân hàng thương mại vay. Nhìn chung những người được vay tiền tại các ngân hàng cũng chính là những người đã gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Do vạy, lãi suất cho vay là rất thấp vì nó mang tính chất tương trợ nhiều hơn là kinh doanh.

Ngoài tổ chức với tên gọi chính thức là ngân hàng tiết kiệm, còn có một số tổ chức có hoạt động gần tương tự như ngân hàng tiết kiệm với những tên gọi khác nhau, ví dụ ở Đức có quỹ tiết kiệm thuộc quyền sở hữu của nhà nước và đặc dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Hoạt động của nó gần giống một ngân hàng có quy mô nhỏ.

Ở Việt nam không có ngân hàng tiết kiệm riêng biệt, hầu như tất cả các ngân hàng thương mại, ngân hàng đặc biệt đều có bộ phận quỹ  tiết kiệm để huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng nhằm hình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại để có thể cho vay theo nhu cầu hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Hi vọng bài viết “Sơ lược về các loại hình ngân hàng trung gian hiện nay” sẽ giải quyết những vướng mắc của bạn

Xem thêm: cách viết bài báo cáocác loại ngân hàng,luận văn kế toán

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.